Làng tôi ờ vốn làm nghề chài lưới.Và sau đó nhà thơ đã kể, đã tường thuật về cái làng chài của mình. Câu thơ có tính thông báo tiếp theo cho thấy đây là một làng chài ờ vùng cửa sông gần biển.
Người dân làng chài cổ Hàm Ninh Phú Quốc xưa nay vẫn gắn với nghề chài lưới là chủ yếu. Do đó, nơi đây ngập tràn hải sản các loại chờ du khách trải nghiệm. Ghẹ làng chài Hàm Ninh Phú Quốc vô cùng chất lượng (Ảnh: sưu tầm) Nếu nói Bình Ba có tôm hùm, Cà Mau có cua thịt thì Hàm Ninh nổi tiếng với món ghẹ ngon khó cưỡng.
Chúng tôi đến làng chài Mũi Né vào buổi sáng sớm, khi không khí còn hơi sương. "Hơn 20 năm trước, Mũi Né vốn là dải đất hiền hòa, dân cư thưa thớt, sống chủ yếu bằng nghề chài lưới dọc bãi biển". Nói về nguồn gốc cái tên Mũi Né, ông Bảy cho biết, xuất phát
Mùa xuân qua làng chài biển chết. Làng chài Lăng Cô nằm ở phía Bắc chân đèo Hải Vân, nơi có bề dày gần ba trăm tuổi với nghề chài lưới và lặn hải sản. Đây từng là một làng chài thịnh vượng, có khả năng cung cấp nguồn cá tốt nhất và ngon nổi tiếng miền Trung
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Còn quê hương trong tâm tưởng của Tế Hanh là một làng chài nằm trên cù lao giữa sông và biển, một làng chài sóng nước bao vây. một khung cảnh làng quê như
Vay Tiền Nhanh Ggads. Đề số 1 Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏiLàng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.... Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu hỏi Bộ đề đọc hiểu phần văn bản văn học, môn ngữ văn Bài thơ Quê hương - Tế Hanh Câu 1 Chỉ ra thể loại và phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ Câu 2 Khái quát nội dung chính của đoạn thơ Câu 3 Đoạn trích thể hiện tình cảm của tác giả với quê hương trong hoàn cảnh nào? Vì sao em biết? Tác giả bộc lộ tình cảm gì vơi quê hương? Câu 4 Xét về cấu tạo, câu sau thuộc kiểu câu nào? Hãy phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Câu 5 Chỉ ra, nêu tác dụng của các biện phép tu từ được sử dụng trong đoạn thơ Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. Câu 5. Từ đoạn thơ trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ nêu suy nghĩ vè vai trò của tình yêu quê hương. Trả lời Bộ đề đọc hiểu phần văn bản văn học, môn ngữ văn Bài thơ Quê hương - Tế Hanh Câu 1 Chỉ ra thể loại và phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ - Thể loại Thơ 8 chữ. - Phương thức biểu đạt chính Biểu cảm Câu 2 Khái quát nội dung chính của đoạn thơ Đoạn trích tái hiện cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi hăng say, hứng khởi và nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ. Câu 3 Đoạn trích thể hiện tình cảm của tác giả với quê hương trong hoàn cảnh nào? Vì sao em biết? Tác giả bộc lộ tình cảm gì vơi quê hương? - Hoàn cảnh Đang sống xa quê - Vì; thể hiện qua từ "xa cách, tưởng nhớ" - Tình cảm của tác giả Yêu mến, tự hào, gắn bó máu thịt với quê hương, nhớ quê hương da diết Câu 4 Xét về cấu tạo, câu sau thuộc kiểu câu nào? Hãy phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng TN Dân trai tráng CN bơi thuyền đi đánh cá VN - >Câu đơn Câu 5 Chỉ ra, nêu tác dụng của các biện phép tu từ được sử dụng trong đoạn thơ Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. - Phép so sánh So sánh "chiếc thuyền" với "con tuấn mã" so sánh một vật cụ thể, hữu hình với một vật cụ thể, hữu hình khác ; so sánh "cánh buồm" với "mảnh hồn làng" so sánh một vật cụ thể, hữu hình với một vật trừu tượng, vô hình. - Nhân hóa Rướn - Ẩn dụ Hình ảnh cánh buồm trắng biểu tượng cho linh hồn làng chài. => Tác dụng Giúp đoạn thơ trở nên giàu hình ảnh, sinh động, gợi hình, gợi cảm; làm nổi bật vẻ đẹp đầy sức sống, khí thế hăm hở, dũng mãnh, hào hùng của con thuyền khi ra khơi +thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương, cuộc sống làng chài làng chài + làm nổi bật vẻ đẹp và ý nghĩa thiêng liêng của hình ảnh con thuyền, cánh buồm với làng chài. Cánh buồn trở thành máu thịt, là linh hồn của làng, là biểu tượng của người dân làng chài. +thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương, cuộc sống làng chàilàng chài Câu 5. Từ đoạn thơ trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ nêu suy nghĩ vè vai trò của tình yêu quê hương. Định hướng Ý chính cần nêu trong bài làm - Nêu vấn đề Đoạn thơ của Tế Hanh đã gợi trong lòng mỗi người những suy tư sâu sắc về vai trò của tình yêu quê hương. - Giải thích Tình yêu quê hương là tình cảm yeu mến, trân trọng, tự hào, gắn bó sâu sắc, chân thành đối với những sự vật và con người nơi ta được sinh ra và lớn lên. - Vai trò của tình yêu quê hương + Tình yêu quê hương là thứ tình cảm vô cùng thiêng liêng. + Tình yêu quê hương giúp cho mỗi người bồi đắp tình cảm cao đẹp, thiêng liêng như yêu ngôn ngữ dân tộc, yêu gia đình, người thân +Giúp mỗi người có ý thức tích cực học tập, rèn luyện, lao động, sống tốt, sống đẹp, thành công, hạnh phúc. + tình yêu quê hương giúp gắn kết cộng đồng, góp phần bảo vệ, giữ gìn, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh. - Lời khuyênCòn nữa Đề số 2 Đọc bài thơ và trả lời các câu hỏi Chim bay dọc biển đem tin cá Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông. ** Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. ** Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. "Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe", Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. ** Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu hỏi Câu 1 Chủ thể trữ tình của bài thơ trên là ai? Vì sao em biết? Câu 2 Khái quát nội dung chính của bài thơ Câu 3. Câu thơ nào tái hiện vẻ đẹp của người dân chài lưới? Nhận xét cách miêu tả của tác giả trong lời thơ trên. Câu 4. Tìm và nêu tác dụng của câu cảm thán trong bài thơ Câu 5 Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ - Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. - Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Câu 6. Bài thơ bồi đắp cho em những tình cảm gì với quê hương? Câu 7 Viết một đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận về cảnh đoàn thuyền đánh cá qua đoạn thơ Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. Trả lời Câu 1 Chủ thể trữ tình của bài thơ trên là ai? Vì sao em biết? - Chủ thể trữ tình Là tác giả - Thể hiện qua dòng thơ Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới, Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu 2 Khái quát nội dung chính của bài thơ - Bài thơ tái hiện tranh làng quê miền biển tươi sáng, sinh động với sự khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài. Qua đó thể hiện tình cảm gắn nó, tự hào và nhớ quê hương da diết của nhà thơ. Câu 3. Câu thơ nào tái hiện vẻ đẹp của người dân chài lưới? Nhận xét cách miêu tả của tác giả trong lời thơ trên. - Câu thơ Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm - > Hình ảnh người dân chài được miêu tả kết hợp tả thực da rám nắng vừa tả lãng mạn thân hình nồng thở vị xa xăm - Tác dụng Tái hiện, làm nổi bật vẻ đẹp người dân chài khoẻ mạnh, thân hình cường tráng, vạm vỡ, cơ bắp, đầy sức sống, thấm đẫm vị mặn mòi của biển cả. Câu 4. Tìm và nêu tác dụng của câu cảm thán trong bài thơ - Câu cảm thán Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! - > Câu cảm thán dùng để bộ lộ cảm xúc trực tiếp cảm xúc nhớ quê hương da diết của nhà thơ khi xa cách. Câu 5. Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu thơ - Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.. - Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. - So sánh Cánh buồm giương to so sánh như mảnh hồn làng - Nhân hóa Rướn thân - Ẩn dụ Qua hình ảnh "thân hình nồng thở vị xa xăm" ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, "thân hình" nay được cảm nhận bằng xúc giác - "mặn" →Tác dụng + thể hiện hình tượng người dân miền biển khỏe khoắn, từng trải, hòa quyện bền chặt với biển cả - ngọn nguồn nuôi dưỡng cuộc sống. +làm nổi bật hình ảnh cánh buồm là linh hồn của làng biển. + thể hiện tình yêu, niềm tự hào về làng quẻ, tinh thần chủ động, làm chủ cuộc sống của người dân. Câu 6. Bài thơ bồi đắp cho em những tình cảm gì với quê hương? - Bồi đắp tình cảm gắn bó, tự hào về quê hương, dù chỉ là quê hương nghèo, lam lũ, cần lao. - Dù có sống xa quê vẫn luôn yêu mến, luôn nhớ đến quê hương. - Yêu gia đình, xóm làng và công việc lao động mưu sinh ở quê hương. - Yêu cảnh vật, gắn bó thân thiết với quê hương. Câu 7 Định hướng Đoạn văn cần đảm bảo các ý *Mở đoạn Bài thơ khắc họa sinh động bức tranh lao động làng chài với hành trình một chuyến ra khơi đánh cá, qua đó thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ *Thân đoạn - Cảm nhận về vẻ đẹp của cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá hăng say, hứng khởi tràn đầy sức sống + Thời gian bắt đầu Sớm mai hồng => gợi niềm tin, hi vọng + Không gian "trời xanh", "gió nhẹ" + Người dân chài đi đánh cá trong buổi sáng đẹp trời, hứa hẹn một chuyến ra khơi đầy thắng lợi + hình ảnh cánh buồm làng gần gũi, thân thương, gió biểu tượng cho linh hồn của làng chài quê hương - Vẻ đẹp của nghệ thuật Lời thơ gợi hình, gợi cảm, ngôn ngữ giản dị, cùng nhân hóa cánh buồm được nhân hóa như một con người, nó đang rướn cao thân mình thu hết gió của đại dương, ẩn dụ cánh buồm ẩn dụ cho linh hồn làng chài, so sánh.. *Kết đoạn Khẳng định vấn đề Đoạn thơ đã vẽ lên một bức tranh lao động của người dân làng chài khoẻ khoắn tràn đầy sức sống qua đó thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên của con người. >>> Bộ Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Ngắm Trăng Trong Tù Không Rượu Cũng Không Hoa - Hồ Chí Minh Chỉnh sửa cuối 18 Tháng hai 2022 bài thơ ngữ văn quê hương văn học đọc hiểu
Bài thơ Quê Hương của Tế Hanh là một trong những bài thơ hay nhất về quê hương. Trải qua bao nhiêu thời gian, những câu từ của bài thơ được rất nhiều thế hệ người Việt thuộc lòng. Bài thơ này cũng nằm trong chương trình giáo dục phổ thông. Dưới đây là nội dung bài thơ, các thông tin liên quan đến tác giả và hoàn cảnh ra đời. Ngoài ra còn có hướng dẫn phân tích và các bài văn phân tích mẫu cho các em học sinh tham khảo. Các Nội Dung Chính1. Lời bài thơ quê hương – Tế Hanh2. Đôi nét về tác giả Tế Hanh3. Đôi nét về bài thơ4. Dàn ý phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh5. Phân tích bài thơ – Một số bài mẫu 1. Lời bài thơ quê hương – Tế Hanh Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ như con Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón về. “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Tác giả Tế Hanh 2. Đôi nét về tác giả Tế Hanh – Tế Hanh 1921- 2009, tên khai sinh là Trần Tế Hanh – Quê quán sinh ra tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi – Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác + Ông có mặt trong phong trào thơ Mới ở chặng cuối với những bài thơ mang nỗi buồn và tình yêu quê hương + Sau năm 1945, Tế Hanh sáng tác phục vụ cách mạng và kháng chiến + Ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật – Phong cách sáng tác thơ ông chân thực với cách diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên và rất giàu hình ảnh, bình dị mà tha thiết Các vị phụ huynh cũng có thể tham khảo một số bài thơ hay cho bé khác như Bài thơ cô giáo em hay Bài thơ mưa hay bài thơ Bạn mới siêu hay nha 3. Đôi nét về bài thơ Hoàn cảnh sáng tác – Bài thơ viết năm 1939, khi Tế Hanh đang học tại Huế trong nỗi nhớ quê hương-một làng chài ven biển tha thiết. Bài thơ được rút trong tập Nghẹn ngào 1939 và sau đó được in trong tập Hoa niên 1945 Bố cục – 2 câu đầu Giới thiệu chung về làng quê. – 6 câu tiếp Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi đánh cá – 8 câu tiếp Cảnh thuyền cá về bến. – 4 câu tiếp Nỗi nhớ làng chài, nhớ quê hương Nội dung – Bài thơ đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển. Trong đó nổi bật lên hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và cảnh sinh hoạt lao động chài lưới. Qua đó cho thấy thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ. Nghệ thuật – Ngôn ngữ bình dị mà gợi cảm, giọng thơ khỏe khoắn hào hùng – Hình ảnh thơ phong phú, giàu ý nghĩa – Nhiềuphép tu từ được sử dụng đạt hiệu quả nghệ thuật 4. Dàn ý phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh Mở bài – Giới thiệu tác giả , tác phẩm Quê hương là bài tiếng nổi tiếng của nhà thơ Tế Hanh – Khái quát nội dung tác phẩm bài thơ thể hiện tình quê hương sâu đậm của tác giả – một người con xa quê. Thân bài Luận điểm 1 Bức tranh làng quê miền biển và cảnh lao động của người dân chài * Bức tranh làng quê miền biển + Lời giới thiệu “vốn làm nghề chài lưới” ⇒ làng nghề đánh cá truyền thống + Vị trí sát ngay bờ biển, “nước bao vây” ⇒ Lời giới thiệu giản dị, mộc mạc, không rườm rà, hoa mỹ. * Cảnh lao động của người dân làng chài – Cảnh đánh bắt cá trên biển + Không gian, thời gian 1 buổi sớm trời trong, gió nhẹ ⇒ điều kiện thuận lợi để ra khơi. + Hình ảnh chiếc thuyền đánh cá dũng mãnh vượt biển, thể hiện qua các động từ mạnh “hăng”, “phăng”, “mạnh mẽ vượt” và phép so sánh “như con tuấn mã” + Hình ảnh cánh buồm giữa biển khơi con thuyền như linh hồn của người dân làng chài, nổi bật trên nền trời bao la rộng lớn ngoài biển khơi. ⇒ Khung cảnh tuyệt đẹp, trần đầy sức sống, sự tươi mới, hứa hẹn một ngày ra khơi thắng lợi. – Cảnh con thuyền trở về sau 1 ngày lênh đênh trên biển + Người dân tấp nập, hớn hở với thành quả của 1 ngày đánh bắt + Hình ảnh người dân chài làn da “ngăm rám nắng” , thân hình “nồng thở vị xa xăm” ⇒ khỏe mạnh, đậm chất miền biển, đầy lãng mạn với “vị xa xăm” – vị của biển khơi, của muối, của gió biển – đặc trưng cho người dân chài. + Hình ảnh con thuyền động từ nhân hóa “mỏi”, “nằm”, “nghe”,… con thuyền như một con người lao động, biết tự cảm nhận thân thể của mình sau một ngày lao động mệt mỏi. ⇒ Bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển và hình ảnh khỏe khoắn, tràn đầy sức sống, tinh thần lao động của người dân làng chài. Luận điểm 2 Nỗi nhớ da diết, tình cảm thắm thiết của tác giả với quê hương của mình – Liệt kê một loạt các hình ảnh của làng quê “màu nước xanh”, “cá bạc”, “chiếc buồn vôi”, “con thuyền rẽ song”,… thể hiện nỗi nhớ quê hương chân thành, da diết của tác giả. – Câu thơ cuối “mùi nồng mặn” – mùi của biển khơi, cá tôm, mùi của con người ⇒ hương vị đặc trưng của quê hương miền biển. Câu cảm thán như một lời nói thốt ra từ chính trái tim của người con xa quê với một tình yêu thủy chung, gắn bó với nơi đã bao bọc mình. Luận điểm 3 Nghệ thuật – Thể thơ tám chữ phóng khoáng, phù hợp với việc bộc lộ cảm xúc giản dị, tự nhiên. – Các hình ảnh liên tưởng, so sánh, nhân hóa vô cùng độc đáo. – Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, giọng điệu nhẹ nhàng, da diết. Kết bài – Khẳng định lại giá trị Với những đặc sắc nghệ thuật bài thơ “Quê hương” không chỉ là thành công lớn trong sự nghiệp thơ Tế Hanh mà còn thể hiện tình cảm yêu thương, nỗi lòng sâu sắc, cảm động của tác giả đối với quê hương của mình. – Liên hệ và đánh giá tác phẩm Đây là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ dạt dào tình cảm của Tế Hanh và cũng là một trong những bài thơ hay nhất viết về tình cảm quê hương. 5. Phân tích bài thơ – Một số bài mẫu Bài mẫu số 1 Quê hương luôn là đề tài không bao giờ cạn kiệt đối với các thi sĩ. Mỗi người có một cách nhìn, cách cảm nhận riêng, đặc trưng về quê hương của mình. Chúng ta bắt gặp những bài thơ viết về quê hương của Đỗ Trung Quân, Giang Nam, Tế Hanh. Trong đó sự nhẹ nhàng, mộc mạc của bài “Quê hương” tác giả Tế Hanh khiến người đọc xốn xang khi nhớ về nơi đã chôn rau cắt rốn, nơi nuôi dưỡng tâm hồn của mình. “Quê hương” là hai tiếng thân thương, được tác giả dùng làm nhan đề của bài thơ. Mở đầu bài thơ bằng sự mộc mạc, chân thành mà sâu sắc Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Hai câu thơ như một lời kể tâm tình rất đỗi bình dị nhưng đã khiến người đọc hình dung được mảnh đất mà tác giả đáng sống là một vùng một biển, làm nghề chài lưới. Một ngôi làng giản dị, chân chất. Hình ảnh “nước”, “biển” rất đặc trưng cho một vùng quê làng biển. Có lẽ những điều bình dị đó khiến cho tác giả vẫn luôn mong ngóng, nhớ nhung khi xa quê hương. Những câu thơ tiếp theo gợi tả lên một khung cảnh tuyệt đẹp mỗi khi sáng mai thức dậy. Sự tinh tế của ngôn từ và cảm xúc khiến cho vần thơ trở nên trữ tình, tuyệt đẹp Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Một loạt từ ngữ mang tính chất liệt kê khung cảnh, không gian thanh bình, tươi đẹp của cảnh biển vào buổi sáng. “Gió nhẹ”, “sớm mai hồng” là những gì còn neo giữ trong lòng của tác giả khi nhớ về quê hương. Và một hoạt động vẫn diễn ra đầu ngày là “bơi thuyền đi đánh cá” được tác giả vẽ nên rất nhẹ nhàng nhưng khỏe khoắn. Chiếc thuyền hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang Nếu những câu thơ trên nhẹ nhàng, tinh tế bao nhiêu thì hai câu thơ này càng mạnh mẽ , quyết liệt và khỏe khoắn bao nhiêu. Với hai động từ “hăng”, “phăng” kết hợp với phép so sánh độc đáo khiến cho bức tranh đi đánh cá trở nên giàu chất tạo hình, giàu đường nét và giấu cá tính mạnh. Với động từ “phăng” đã phần nào gợi tả lên sự khéo léo kết hợp sự tinh tế và khỏe mạnh của những người dân vùng chài lưới. Hai câu sau lại trở về với vẻ lãng mạn đến bất ngờ Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió Một hình ảnh bình dị, thân quen như cánh buồm nhưng trong thơ của Tế Hanh lại có hồn, đậm chất thơ. Phép so sánh cánh buồm “như mảnh hồn làng” có sức gợi rất sâu sắc, bởi rằng đối với những người làm nghề chài lưới thì cánh buồm chính là biểu tượng cho cuộc sống của họ. Một sự so sánh hữu hình và vô hình đã làm nên sự sáng tạo nghệ thuật tuyệt vời. Con thuyền đã mang theo cả tin yêu, hạnh phúc và hi vọng của những người dân nơi đây. Câu thơ khỏe khoắn và tự nhiên đã phần nào làm toát lên được khí thế hào hùng trong công cuộc chinh phục biển khơi. Tế Hanh đã miêu tả nên một bức tranh thiên nhiên và bức tranh lao động sáng tạo tuyệt vời nhất. Đó là niềm tự hào, sự ca ngợi quê hương, đất nước. Đặc biệt, khung cảnh dân chài lưới chào đón thành quả sau một ngày căng thẳng vất vả được miêu tả chân thực và đầy niềm vui Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn giời biển lặng cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Hình ảnh dân làng “ồn ào”, “tấp nập” đã phần nào tái hiện được không khí vui tươi và phấn khởi của người dân chài sau một ngày hoạt động hết công suất. Những con cá “tươi ngon” nằm im lìm là những thành quả mà họ đạt được. Và có lẽ hình ảnh con người mạnh mẽ, khỏe khoắn là hình ảnh trung tâm không thể thiếu trong bức tranh ấy Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Hình ảnh thơ mặn mòi, đậm chất biển, vừa khỏe khoắn, vừa chân chất vừa mộc mạc toát lên được vẻ đẹp của những con người vùng biển quanh năm vất vả. Tế Hanh đã phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn đó như một điều bình dị trong cuộc sống này. Và có lẽ những hình ảnh thân quen nơi làng quê ấy đã khiến cho Tế Hanh dù đi xa nhưng vẫn không thể nào quên, vẫn nhớ về câu Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh cá bạc chiếc buồm vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá. Một khổ thơ dạt dào tình cảm, nghèn nghẹn ở trong trái tim tác giả khi nhớ về mảnh đất thân yêu một thời. Nỗi nhớ quê dạt dào khôn nguôi khi những hình ảnh thân quen ấy cứ ùa về. Thật vậy bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh không chỉ là riêng tình cảm của tác giả giành cho quê hương; mà bài thơ này còn nói hộ rất nhiều tấm lòng khác đang ở xa quê hương. Chúng ta càng trân trọng hơn nữa mảnh đất chân rau cắt rốn, yêu hơn nữa những điều bình dị nhưng thiêng liêng. Bài Mẫu 2 Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là Tế Hanh – một tác giả có mặt trong phong trào Thơ mới và sau cách mạng vẫn tiếp tục sáng tác dồi dào. Ông được biết đến qua những bài thơ về quê hương miền Nam yêu thương với tình cảm chân thành và vô cùng sâu lắng. Ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển, hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ. Bài thơ “Quê hương” là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, là tác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, yêu mến những con người lao động cần cù. Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ phối hợp cả hai kiểu gieo vần liên tiếp và vần ôm đã phần nào thể hiện được nhịp sống hối hả của một làng chài ven biển Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Quê hương trong tâm trí của những người con Việt Nam là mái đình, là giếng nước gốc đa, là canh rau muống chấm cà dầm tương. Còn quê hương trong tâm tưởng của Tế Hanh là một làng chài nằm trên cù lao giữa sông và biển, một làng chài sóng nước bao vây, một khung cảnh làng quê như đang mở ra trước mắt chúng ta vô cùng sinh động “Trời trong – gió nhẹ – sớm mai hồng”, không gian như trải ra xa, bầu trời như cao hơn và ánh sáng tràn ngập. Bầu trời trong trẻo, gió nhẹ, rực rỡ nắng hồng của buổi bình minh đang đến là một báo hiệu cho ngày mới bắt đầu, một ngày mới với bao nhiêu hi vọng, một ngày mới với tinh thần hăng hái, phấn chấn của biết bao nhiêu con người trên những chiếc thuyền ra khơi Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang Nếu như ở trên là miêu tả vào cảnh vật thì ở đây là đặc tả vào bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống. Con thuyền được so sánh như con tuấn mã làm cho câu thơ có cảm giác như mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui và phấn khởi của những người dân chài. Bên cạnh đó, những động từ “hăng”, “phăng”, “vượt” diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới vô cùng dũng mãnh của con thuyền toát lên một sức sống tràn trề, đầy nhiệt huyết. Vượt lên sóng. Vượt lên gió. Con thuyền căng buồm ra khơi với tư thế vô cùng hiên ngang và hùng tráng Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Từ hình ảnh của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến “hồn người”, phải là một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng xóm Tế Hanh mới có thể viết được như buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay trở nên lớn lao và thiên buồm trắng thâu gió vượt biển khơi như hồn người đang hướng tới tương lai tốt lẽ nhà thơ chợt nhận ra rằng linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm. Hình ảnh trong thơ trên vừa thơ mộng vừa hoành tráng, nó vừa vẽ nên chính xác hình thể vừa gợi được linh hồn của sự vật. Ta có thể nhận ra rằng phép so sánh ở đây không làm cho việc miêu tả cụ thể hơn mà đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng mang ý nghĩa lớn lao. Đó chính là sự tinh tế của nhà thơ. Cũng có thể hiểu thêm qua câu thơ này là bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng mưu sinh của người dân chài đã được gửi gắm vào cánh buồm đầy gió. Dấu chấm lửng ở cuối đoạn thơ tạo cho ta ấn tượng của một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa sóng nước mênh mông, hình ảnh con người trên chiếc tàu nhỏ bé không nhỏ nhoi đơn độc mà ngược lại thể hiện sự chủ động, làm chủ thiên nhiên của chính mình. Cả đoạn thơ là khung cảnh quê hương và dân chài bơi thuyền ra đánh cá, thể hiện được một nhịp sống hối hả của những con người năng động, là sự phấn khởi, là niềm hi vọng, lạc quan trong ánh mắt từng ngư dân mong đợi một ngày mai làm việc với bao kết quả tốt đẹp Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Những tính từ “ồn ào”, “tấp nập” toát lên không khí đông vui, hối hả đầy sôi động của cánh buồm đón ghe cá trở về. Người đọc như thực sự được sống trong không khí ấy, được nghe lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên, biển lặng để người dân chài trở về an toàn và cá đầy ghe, được nhìn thấy “những con cá tươi ngon thân bạc trắng”. Tế Hanh không miêu tả công việc đánh bắt cá như thế nào nhưng ta có thể tưởng tượng được đó là những giờ phút lao động không mệt mỏi để đạt được thành quả như mong đợi. Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Có thể nói rằng đây chính là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ. Với lối tả thực, hình ảnh “làn da ngắm rám nắng” hiện lên để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc thì ngay câu thơ sau lại tả bằng một cảm nhận rất lãng mạn “Cả thân hình nồng thở vị xa xăm” – Thân hình vạm vỡ của người dân chài thấm đẫm hơi thở của biển cả nồng mặn vị muối của đại dương bao la. Cái độc đáo của câu thơ là gợi cả linh hồn và tầm vóc của con người biển cả. Hai câu thơ miêu tả về con thuyền nằm im trên bến đỗ cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nhà thơ không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy cả sự mệt mỏi của nó. Cũng như dân chài, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe chất muối của đại dương đang thấm trong từng thớ vỏ của nó. Thuyền trở nên có hồn hơn, nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã trở thành người bạn của ngư dân. Không phải người con làng chài thì không thể viết hay như thế, tinh như thế, và cũng chỉ viết được những câu thơ như vậy khi tâm hồn Tế Hanh hoà vào cảnh vật cả hồn mình để lắng nghe. Ở đó là âm thanh của gió rít nhẹ trong ngày mới, là tiếng sóng vỗ triều lên, là tiếng ồn ào của chợ cá và là những âm thanh lắng đọng trong từng thớ gỗ con thuyền. Có lẽ, chất mặn mòi kia cũng đã thấm sâu vào da thịt nhà thơ, vào tâm hồn nhà thơ để trở thành nỗi niềm ám ảnh gợi bâng khuâng kì diệu. Nét tinh tế, tài hoa của Tế Hanh là ông “nghe thấy cả những điều không hình sắc, không âm thanh như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”… Thơ Tế Hanh là thế giới thật gần gũi, thường ta chỉ thấy một cách lờ mờ, cái thế giới tình cảm ta đã âm thầm trao cảnh vật sự mỏi mệt, say sưa của con thuyền lúc trở về bến…” Nói lên tiếng nói từ tận đáy lòng mình là lúc nhà thơ bày tỏ tình cảm của một người con xa quê hướng về quê hương, về đất nước Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá Nếu không có mấy câu thơ này, có lẽ ta không biết nhà thơ đang xa quê, ta thấy được một khung cảnh vô cùng sống động trước mắt chúng ta, vậy mà nó lại được viết ra từ tâm tưởng một cậu học trò, từ đó ta có thể nhận ra rằng quê hương luôn nằm trong tiềm thức nhà thơ, quê hương luôn hiện hình trong từng suy nghĩ, từng dòng cảm xúc. Nối nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô cùng giản dị “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Quê hương là mùi biển mặn nồng, quê hương là con nước xanh, là màu cá bạc, là cánh buồm vôi. Màu của quê hương là những màu tươi sáng nhất, gần gũi nhất. Tế Hanh yêu nhất những hương vị đặc trưng quê hương đầy sức quyến rũ và ngọt ngào. Chất thơ của Tế Hanh bình dị như con người ông, bình dị như những người dân quê ông, khoẻ khoắn và sâu lắng. Từ đó toát lên bức tranh thiên nhiên tươi sáng, thơ mộng và hùng tráng từ đời sống lao động hàng ngày của người dân. Bài thơ đem lại ấn tượng khó phai về một làng chài cách biển nửa ngày sông, lung linh sóng nước , óng ả nắng vàng. Dòng sông, hồn biển ấy đã là nguồn cảm hứng theo mãi Tế Hanh từ thuở “hoa niên” đến những ngày tập kết trên đất Bắc. Vẫn còn đó tấm lòng yêu quê hương sâu sắc, nồng ấm của một người con xa quê Tôi dang tay ôm nước vào lòng Sông mở nước ôm tôi vào dạ Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả Kẻ sớm hôm chài lưới ven sông Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển Vẫn trở về lưu luyến bến sông Nhớ con sông quê hương – 1956 Với tâm hồn bình dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng lại không có những tư tưởng chán đời, thoát li với thực tại, chìm đắm trong cái tôi riêng tư như nhiều nhà thơ thời ấy. Thơ Tế Hanh là hồn thi sĩ đã hoà quyện cùng với hồn nhân dân, hồn dân tộc, hoà vào “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”.“Quê hương” – hai tiếng thân thương, quê hương – niềm tin và nỗi nhơ,ù trong tâm tưởng người con đất Quảng Ngãi thân yêu – Tế Hanh – đó là những gì thiêng liêng nhất, tươi sáng nhất. Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động tạo cho người đọc cảm giác hứng khởi, ngôn ngữ giàu sức gợi vẽ lên một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh”. Các phụ huynh và các thầy cô có thể đăng ký kênh Youtube của chúng tôi để xem nhiều truyện hay và thơ hay cho bé. Đăng Ký Ngay
Bài văn mẫu lớp 8Văn mẫu lớp 8 Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Quê hương Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới…..Rướn thân trắng bao la thâu góp gió dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu nhằm giúp các em học sinh và phụ huynh tham khảo các bài Ngữ văn 8 nhằm củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham tích bài thơ Quê hươngQuê hương, hai tiếng vang lên thật ngọt ngào, da diết biết bao. Nó đánh thức trong mỗi con người tình yêu thương thiêng liêng, cháy bỏng với một miền quê — nơi mình sinh ra, trưởng thành. Tình yêu đó đã được hóa thân vào những bản nhạc du dương, những bức tranh tươi màu sắc và đặc biệt hóa thân vào những vần thơ chan chứa bao cảm xúc. Quê hương của nhà thơ Tế Hanh là một trong số những vần thơ như thế, những vần thơ có sức lay động lòng người, thể hiện tình yêu quê hương bất đầu bài thơ, tác giả giới thiệu với người đọc về quê hương dấu yêu của mình“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lướiNước bao vây, cách biển nửa ngày sông”.Chỉ qua hai câu thơ ngắn gọn, Tế Hanh đã cho người đọc biết đến một vùng quê ven biển, với “nghề chài lưới”. Cách gọi “làng tôi” thật dân giã, thân mật, khiến câu thơ không giấu nổi niềm cảm xúc tự hào. Nhà thơ đã đặc tả cụ thể vị trí của làng “nước bao vây, cách biển nửa ngày sông”. Ngôi làng hiện ra như một hòn ngọc giữa màu xanh trong của nước biển. Cách đo thời gian bằng không gian “nửa ngày sông”, không gian của sông nước thật độc đáo tạo cho người đọc ấn tượng mạnh mẽ về vùng quê chài lưới thanh bình, tươi đẹp. Vùng quê đó càng trở nên đẹp hơn, như một bức tranh tươi màu sự sống khi tác giả đặc tả cảnh dân chài ra khơi vào một buổi “sớm mai hồng”“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồngDân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”.Cả một khung cảnh bao la của vùng biển như được tác giả tái hiện qua câu thơ “Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng”. Tất cả hiện lên ở vẻ đẹp viên mãn, tràn đầy nhất. Các tính từ “trong, nhẹ, hồng” đã tuyệt đối vẻ đẹp của tạo hóa. Đặc biệt vẽ ra bức tranh bình yên của vùng biển rộng lớn. Đó không phải là ngày biển ào ào giông tố mà là một ngày biển lặng, sóng êm. Câu thơ ngắt nhịp 3/2/3, với âm bằng chiếm chủ yếu phải chăng thể hiện những con sóng dạt dào vỗ vào bờ? Nổi bật lên giữa thiên nhiên đó là hình ảnh con thuyền ra khơi căng tràn sự sống“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mãPhăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giangCánh buồm giương to như mảnh hồn làngRướn thân trắng hao la thâu góp gió…”.So sánh độc đáo “chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã”, giàu sức gợi tả, thể hiện sức mạnh không gì ngăn nổi của những chiếc thuyền ra khơi. Bên cạnh đó tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ, đưa các động từ, tính từ đặc tả sức mạnh lên đầu câu “phăng mái chèo”, “mạnh mẽ vượt”, một lần khẳng định những chiếc thuyền mang trên mình sức mạnh như vũ bão. Câu thơ mở ra một khung cảnh ra khơi hùng tráng, mỹ lệ. Khung cảnh đó càng trở nên kì vĩ hơn với hình ảnh“Cánh buồm giương to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió…”.Lấy cái hữu hình so sánh với cái vô hình, tác giả như muốn huyền thoại hóa, mang màu sắc linh thiêng thổi hồn vào cánh buồm. Cánh buồm là nơi chứa đựng bao ước mơ, khát vọng của người dân làng chài vì thế nó cũng giống như hồn vía của ngôi làng. Tế Hanh đã sử dụng từ ngữ miêu tả rất tinh tế “cánh buồm giương to” chứ không phải “cánh buồm trương to”. Nếu “trương to” thì thật trần trụi, thô ráp, chỉ gợi độ rộng. Còn “giương to” vừa thể hiện sự rộng lớn vừa thể hiện xu hướng tiến về phía trước, đồng thời cũng đầy linh thiêng. Cánh buồm như kiêu hãnh hơn, mạnh mẽ hơn với hình ảnh “Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”. Động từ “rướn” diễn tả tư thế vươn mình tiến lên được đặt đầu câu nhấn mạnh sự chủ động. Cánh buồm như vươn mình ra xa để thu hút hết những luồng gió, để tăng thêm sinh lực, mạnh mẽ vượt qua các con sóng lao ra khơi xa. Đoạn thơ miêu tả cảnh ra khơi chỉ gồm sáu câu nhưng đã lột tả được cái thần, cái chất của khung cảnh tráng lệ. Các câu thơ luôn kết thúc với âm mở a, ang, o,… như mở ra một đại dương bao la, đầy hứa hẹn những mẻ cá đầy, nơi mà con thuyền đang hướng tới. Có lẽ trên văn đàn Việt Nam hiếm có cuộc ra khơi nào mà lại được miêu tả một cách hùng tráng, kì vĩ, thấm đượm chất biển như trong thơ Tế Hanh. Ông đã viết về quê hương dấu yêu với cả tình yêu quê hương tha thiết, dạt đây VnDoc đã tổng hợp các bài văn mẫu Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Quê hương Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới…..Rướn thân trắng bao la thâu góp gió cho các bạn tham khảo ý tưởng khi viết bài. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm chuyên mục Soạn văn 8 mà VnDoc đã chuẩn bị để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 8 và biết cách soạn bài lớp 8 các Tác giả - tác phẩm Ngữ văn 8 trong sách Văn tập 1 và tập 2. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham bài liên quan đến tác phẩmSoạn Văn 8 Quê hương Tế HanhSoạn bài lớp 8 Quê hươngVăn mẫu lớp 8 Phân tích bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh
UIOJK 19 tháng 2 2020 lúc 1539 Nêu nội dung hai câu thơ sauLàng Tôi vốn làm nghề chài lướinước bao vây cách biển nửa ngày sông Xem chi tiết UIOJK 19 tháng 2 2020 lúc 1530 Nêu nội dung hai câu thơ sauLàng Tôi vốn làm nghề chài lướinước bao vây cách biển nửa ngày sông Xem chi tiết Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây, cách biển nửa ngày tiếp bài thơ trên. Cho biết tên bài thơ và tác giả. Xem chi tiết Bài tập 1 Mở đầu bài thơ “Quê hương”, nhà thơ Tế Hanh viếtLàng tôi ở vốn làm nghề chài lướiNước bao vây, cách biển nửa ngày sông…1. Chép thuộc lòng 6 câu thơ tiếp Bài thơ Quê hương được sáng tác trong hoàn cảnh nào?3. Chỉ rõ và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật sa sánh trong hai câu thơ sau “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”4. Viết đoạn văn khoảng...Đọc tiếp Xem chi tiết Câu 1Cho đoạn thơ sau“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lướiNước bao vây cách biển nửa ngày trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh thuyền nhẹ hăng như con tuấn mãPhăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường buồm giương, to như mảnh hồn làngRướn thân trắng bao la thâu góp gió…,,a/ Đoạn thơ được trích từ bài thơ nào ? Do ai sáng tác ?b/ Trong đoạn thơ trên, tác giả đã giới thiệu quê hương của mình như thế nào ?Nêu nhận xét về cách giới thiệu của tác g...Đọc tiếp Xem chi tiết
Đề bài Cảm nhận đoạn thơ "Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới... Rướn thân trắng bao la thâu góp gió"“Quê hương” là bài thơ đặc sắc nhất của Tế Hanh, in trong tập thơ “Nghẹn ngào”, xuất bản năm 1939, năm đó tác giả 18 tuổi đang học Trung học tại Huế. Tình thương nhớ quê hương yêu dấu của đứa con xa quê thấm đẫm, dạt dào trên từng dòng thơ. Đây là phần đầu bài thơ “Quê hương” “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới ... Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”. Hai câu thơ đầu, tác giả như cất tiếng yêu thương gọi thầm, gợi nhớ nơi chôn nhau cắt rốn của mình “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông”. Làng chài ở Bình Dương là nơi “tôi ở là quê cha đất tổ thuộc Quảng Ngãi, ven biển miển Trung. Con sông được Tế Hanh nhắc đến là sông Trà Bồng. Cái làng chài thân thương ấy bao bọc sông nước mênh mông. Con đường đi ra biển, con đường làm ăn được đứa con li hương nhẩm tính “ bao vây cách biển nửa ngày sông”. Chữ “vốn” trong câu thơ đầu biểu lộ niềm tự hào cúa Tế Hanh khi nói về nghề đánh cá, nghề chài lưới là một nghề truyền thống lâu đời của quê hương yêu dấu. Sáu câu thơ tiếp theo mở ra một thời gian nghệ thuật, một không gian nghệ thuật tuyệt đẹp về cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá. Đó là một rạng đông tráng lệ “ Khi trời trong,gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Các tính từ trong, nhẹ, hồng dùng rất chính xác, đã gợi tả một buổi ra khơi lí tưởng một ngày đẹp trời, sóng êm biển lặng. Nhịp thơ 3/2/3 như nhịp điệu mái chèo cắt nước cùa đoàn trai tráng đưa con thuyền ra khơi đánh cá. Những con thuyền nhẹ lướt sóng, hăm hở, hăng hái như đoàn tuấn mã phi nhanh. Sóng nước tung lên như bờm tuấn mã phi nước kiệu. Nghệ thuật so sánh và nhân hóa tả con thuyền lướt sóng ra khơi đã tạo nên một hình ảnh hữu tình, đầy thi vị. Con thuyền mang sức mạnh lao động và khí thế ra khơi của những trai tráng làng chài. Rất hăm hở và lạc quan yêu đời “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã”. “Hăng” là hăng hái, là hăng say, là hăm hở. Những mái chèo to và dài như những lưỡi kiếm khổng lồ chém xuống nước, “phăng” xuống mặt sông nước bao la, dồn bao khí thế, bao sức mạnh mẽ cứa dân trai tráng đưa đoàn thuyền “vượt trường giang". Tế Hanh đã chọn được những từ ngữ thật đắt phăng, mạnh mẽ,vượt để gợi tả sức mạnh và khí thế ra khơi trong buổi “ sớm mai hồng” ấy “ Phăng mái chèo, mạnh vượt trường giang" Nhà thơ đã sử dụng một cách tài tình các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ và nhân hóa khi nói về cánh buồm của đoàn thuyền ra khơi “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp Cánh buồm là vật cụ thể nhìn thấy được so sánh với "hồn làng", sự vật trừu tượng chỉ có thể cảm nhận bằng cảm xúc, tâm hồn. "Mảnh hồn làng" là sức mạnh lao động, chinh phục biển, là khát vọng ấm no hạnh phúc của bà con làng chài, của “làng tôi”. “Rướn” là ưỡn ngực hướng về phía trước, dồn tất cả sức mạnh và khí thế tiến vể phía trước. Cánh buồm trắng dãi dầu mưa nắng, mở rộng bao la như “thâu góp gió”, để đưa con thuyền “rướn”về phía biển. Cánh buồm là một biểu tượng tuyệt đẹp ca ngợi sức sống, sức mạnh và khí thế ra khơi của làng chài. Đoạn thơ như một trong hồi tưởng tuyệt đẹp về cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá. Cảnh sắc hữu tình nên thơ. Ngôn ngữ thơ chọn lọc, giàu hình tượng. Cảnh bình minh, đoàn trai tráng, con thuyền, mái chèo, cánh buồm, tất cả đã in sâu vào tâm hồn và kí ức cùa đứa con xa quê. Và tất cả những hình ảnh thân thuộc đó đã kết đọng thành hồn vía bài “Quê hương”. Gần bảy mươi năm trôi qua 1939-2007, những vần thơ của Tế Hanh vẫn làm xúc động mỗi chúng ta. Tế Hanh đã gửi bao tình sâu nghĩa nặng vào “Quê hương” yêu dấu.
làng tôi vốn làm nghề chài lưới